Bi đát hơn, vào năm 1597, Cervantes phải ngồi tù vì sự phá sản của ngân hàng Sevillian nơi ông gửi số tiền thuế để chuyển về nộp tại Madrid. Trong thời gian này ông nảy ý định viết Don Quyxote. Phần một của cuốn tiểu thuyết được hoàn thành vào năm 1605. Ngay lập tức, tên tuổi của ông vang dội khắp Tây Ban Nha và châu Âu. Sách được tái bản và phát hành tới hàng triệu cuốn nhưng Cervantes nghèo vẫn cứ nghèo vì tiền rơi hết vào tay các nhà xuất bản và lãnh chúa bảo trợ. Cảnh cơ hàn của Cervantes đã được lưu truyền qua giai thoại sau: năm 1615, nhân chuyến thãm Tây Ban Nha, đoàn sử giả Pháp dến thăm Cervantes.
Thấy sự nghèo khổ của ông, một người thốt lên, – “Sao! Một con người như vậy mà nước Tây Ban Nha không lấy công quỹ cung dưỡng và làm cho glàu có ư!”. Người khác nói thêm một cách ý nhị, “Nếu sự nghèo túng buộc ông ta phải viết sách thì cÂu Chúa cho ông ta không bao giờ sung túc để những tác phẩm của một người nghèo khổ như ông làm glàu cho thiên hạ”. Năm 1613, Cervantes hoàn thành tập Truyện nêu gương. Tập truyện ngắn nàv mang lại cho ông danh tiếng là Doccáccio của Tây Ban Nha. Nhưng vào thời điếm ấy, độc giả chú ý đến tiểu thuyết Don Quvxote nhiều hơn. Irong lúc Cervantes đang dốc sức hoàn thành phần hai của cuốn tiểu thuyết trứ danh thì có kẻ dịnh cướp danh tiếng của ông bằng cách tung ra thị trường phần hai của Don Quyxote vào năm 1614. Sự việc ăn cắp trắng trợn này đã được Cervantes viết rõ trong phần hai Don Quyxole của mình, xuất bản năm 1615.
Về đời tư, năm 1582, Cervantes chung sống với Anna Franca de Rojas, hai người sinh được con gái Isabel. Đến năm 1584, Cervantes chia tay Anna để kết hôn với Catalina de Salazar nhưng không có con. Cervantes qua đời ngày 22 tháng 4 năm 1616. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng được xuất bản sau khi ông mất là Persiles và Sigismunda (1617).
Về đời tư, năm 1582, Cervantes chung sống với Anna Franca de Rojas, hai người sinh được con gái Isabel. Đến năm 1584, Cervantes chia tay Anna để kết hôn với Catalina de Salazar nhưng không có con. Cervantes qua đời ngày 22 tháng 4 năm 1616. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng được xuất bản sau khi ông mất là Persiles và Sigismunda (1617).
Từ khóa tìm kiếm nhiều: than
thoai hi lap, su thi hy lap
Nhãn:
Văn học phương tây
Cervantes trực tiếp chứng kiến những đổi thay này. Năm 1571, ông tham gia trận thúy chiến Lepanto chống quân Thổ Nhĩ Kì. Tinh thần quả cảm của ông được ngợi khen nhưng trận chiến ấy đã để lại thương tật vĩnh viễn trên bàn tay trái của ông. Sau đó ông còn tham gia nhiều trận đánh lớn trên biển Địa Trung Hải trước khi quay về Tây Ban Nha từ Naple. Không may cho Cervantes, ông bị bọn cướp biển Bắc Phi bắt giữ làm tù binh dể đòi tiền chuộc. Khoản tiền quá lớn khiến gia dinh ông không thể đáp ứng, triều đình thì không hề quan tâm. Do vậy, Cervantes phải sống trong cảnh mất tự do 5 năm ở Algie. Thời gian này, ông có diều kiện tiếp xúc với văn hoá Hổi giáo và hiểu biết những xung đột giữa Hồi giáo và Thiên chúa giáo để về sau dùng làm tư liệu cho nhiều trang viết thành công của mình. Chặng đường 10 năm lưu lạc (1570 – 1580) đả được Cervantes hư cấu thành chuyện của một người tù trong Don Qnyxơre (phần một, chương 39 – 41).
Năm 1580, nhờ khoản tiền chuộc giảm xuống vì những kẻ bắt giữ khâm phục lòng dũng cảm của ông (ông tổ chức vượt biển bốn lần nhưng không thành công và lần nào cũng nhận trách nhiệm về mình), gia đình và bạn bè mới có thể quyên góp để mua lại tự do cho ông. Lúc này Cervantes đã quá thấm thìa về cảnh tù tội, sự vô trách nhiệm của triều đình song bù lại, ông có khoảng thời gian trực tiếp nếm trải và chiêm nghiệm cuộc đời. Đấy là khối tài sản vô giá cho sự nghiệp văn chương ông.
Ở Madrid, Cervantes bắt đầu con đường sáng tác của mình, ông làm thơ, nhưng không thành công. Ông viết kịch (khoảng ba mươi vở) song chẳng một vở nào được trình diễn. Ông viết tiểu thuyết đồng quê (pastoral romance) La Galatea (1585) nhưng chẳng gây được tiếng vang… Như thế cuộc sống vất vả gian truân của ông lại càng gian truân hơn. Năm 1587, Cervantes nhận chân ủy viền Hội đổng cung ứng lương thực cho Hạm đội Armada (một năm sau, Armada qua thời hoàng kim vì bại trận dưới tay người Anh và trở thành gánh nặng về chi phí đối với đất nước) mà thực chất là đi đốc thuế. Vì công việc mà Cervantes nhiều lần mâu thuẫn với nhà thờ và giới quý lộc (bởi đó là hai đối tượng chiếm giữ nhiều đất dai và phải nộp thuế nhiều).
Đọc thêm tại: http://vanhocphuongtay.blogspot.com/2015/07/cervantes-la-tieu-thuyet-gia-bac-thay.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: thần
thoại hi lạp, van hoc phuong
tay
Nhãn:
Văn học phương tây
MIGUEL DE CERVANTES (1547-1616)
Cervantes là tiểu thuyết gia bậc thầy của nhân loại. Ông không chỉ nổi tiếng với tư cách là nhà nhân văn mang tư tưởng tiến bộ hướng về quyền bình đẳng, tự do mà còn được xem là người khai sinh ra tiểu thuyết hiện đại, đặc biệt là loại tiểu thuyết phiêu lưu. Hình thức tiểu thuyết này được kế thừa bởi nhiều nhà văn thuộc các thế hệ sau như Dcfoe (Anh), Mark Twain (Hoa Kì)… Đặc biệt, Cervantes còn khai sinh ra kiểu nhân vật lưỡng diện, vừa điên rồ vừa sáng suốt, dùng tiếng cười và thủ pháp lạ hoá điêu luyện trong việc bóc trần những thói hư tật xấu của con người. Don Quyxote và Sancho Panza của ông trớ thành những biểu tượng bất hủ của mọi thời. Ông được tôn vinh là “ông hoàng của sự dí dỏm” (The Prince of Wits).
Cervantes là tiểu thuyết gia bậc thầy của nhân loại. Ông không chỉ nổi tiếng với tư cách là nhà nhân văn mang tư tưởng tiến bộ hướng về quyền bình đẳng, tự do mà còn được xem là người khai sinh ra tiểu thuyết hiện đại, đặc biệt là loại tiểu thuyết phiêu lưu. Hình thức tiểu thuyết này được kế thừa bởi nhiều nhà văn thuộc các thế hệ sau như Dcfoe (Anh), Mark Twain (Hoa Kì)… Đặc biệt, Cervantes còn khai sinh ra kiểu nhân vật lưỡng diện, vừa điên rồ vừa sáng suốt, dùng tiếng cười và thủ pháp lạ hoá điêu luyện trong việc bóc trần những thói hư tật xấu của con người. Don Quyxote và Sancho Panza của ông trớ thành những biểu tượng bất hủ của mọi thời. Ông được tôn vinh là “ông hoàng của sự dí dỏm” (The Prince of Wits).
Cuộc đời và sự nghiệp
Miguel de Cervantes, nhà văn Phục hưng Tây Ban Nha, sinh năm 1547 tại Alcala de Henares, gần thủ đô Madrid. Cha ông là một thầy thuốc nghèo đông con. Thuở ấu thơ, Cervantes chịu nhiều khổ cực, cùng gia đình di chuyển qua nhiều thành phố dể kiếm sống. Việc học của ông, vì thế phải chịu nhiều phen gián đoạn. Theo các tài liệu đáng tin cậy. la biết Cervantes tốt nghiệp tại Mọc viện Nhân văn (Humanist academy) (có ý kiến khác cho rằng ông tốt nghiệp Đại học Thần học) ở Madrid. Năm 1569, Cervantes rời Tây Ban Nha sang Itali và một năm sau, ông gia nhập quân đội Tây Ban Nha.
Cervantes trưởng thành dưới thời vua Philip Đệ nhị (1556-1589). Giai doạn này Tây Ban Nha là cường quốc số một của châu Âu. Sau sự kiện Colombus tìm ra châu Mĩ vào năm 1492, Tây Ban Nha đẩy nhanh quá trình đầu tư và khai thác thuộc địa. Nhờ vào sức mạnh quân sự, đặc biệt là hải quân với hạm dội Armada, Tây Ban Nha vừa mở rộng thuộc địa, vừa tăng cường cướp bóc trên biển, nên chẳng mấy chốc đã trở nên glàu có. Tuy nhiên, tiền của lại rơi vào tay quý tộc phong kiến, khoảng cách giữa người glàu người nghèo ngày càng nới rộng hơn. Sự xa xỉ trong cung đình và sự sao nhãng trong sản xuất, cùng với mâu thuẫn trong nội bộ giới lãnh đạo đã khiến cho Tây Ban Nha suy thoái kể từ giữa thế kỉ XVI. Khi hạm đội Armada bị bão vùi quá nửa lúc đang tiến đánh nước Anh và sau đó là sự bại trận thảm hại dưới tay người Anh, Tây Ban Nha mất quyền thống trị mặt biển. Thất bại này làm giảm nguồn lợi nhuận đáng kể, khiến đất nước rơi nhanh vào khủng hoảng.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: than
thoai hi lap, văn học phương
tây
Nhãn:
Văn học phương tây
Giai đoạn lịch sử kéo dài khoảng từ thế kí XIV đến thế kỉ XVI ở châu Au được biết đến với cái tên Phục hưng. Trong tiếng Anh, thuật ngữ Phục hưng là Renaissance, trong tiếng Italia là Renascita.
Sau thời cổ đại của Hi Lạp, đặc biệt sau khi Thiên chúa giáo ra đời vào thế kỉ thứ nhất, sự lớn mạnh của nhà nước phong kiến và Giáo hội đã đặt ra những chuẩn mực mới cho châu Âu. Theo đó, con người và cái tôi cá nhân từng được văn học cổ đại đề cao bị rơi xuống hàng thứ yếu. Chiếm lĩnh vị trí độc tôn là hình ảnh của một vị chúa toàn năng hoặc một đức vua quyền uy trên ngai vàng. Con người trở nên vô cùng nhỏ bé. Vì lẽ này nên văn học được giao cho nhiệm vụ chủ yếu là tập trung ca ngợi vua chúa. Người anh hùng, mẫu người lí tưởng của thời đại, là người chỉ biết phụng sự chúa và vua đến hơi thở cuối cùng…
Thực trạng trên kéo dài khoảng mười thế kỉ. Các nhà nghiên cứu gọi giai đoạn này là thời kì Đêm trường Trung cổ. Văn học không hề đạt được thành tựu nào đáng kể. Cho đến khi khoa học kĩ thuật phát triển, sản xuất thương mại được đẩy mạnh, châu Âu tăng cường quan hệ trong phạm vi các quốc gia thuộc châu lục và mở rộng ra nhiều châu lục khác, nhờ thế các học giả châu Âu mới có điều kiện thay đổi cách nhìn. Họ hoài nghi về các tín điều được răn dạy trong Kinh thánh và muốn xác lập những nguyên tắc sống mới. Nguyên tắc ấy lấy con người làm đối tượng dể ngợi ca.
Điều đó đã từng được người Hi Lạp cổ đại thực hiện. Vì vậy, châu Âu dấy lên phong trào học tập cổ đại. Họ xem các giá trị nhân văn ấy làm tiêu chuẩn cho kỉ nguyên mới. Kỉ nguyên này được gọi là kỉ nguyên Phục hưng. Có nghĩa khôi phục lại văn hóa, tư tưởng nhân vãn Hi Lạp cổ đại và phát triển nó cho phù hợp với yêu cầu của thời đại mới. Khái niêm này còn được sử dụng với nghĩa làm mới và sống dậy ngay chính mảnh đất hoang tàn vì những giáo diều của quân quyền và thần quyền.
Phong trào Phục hưng ra đời trên cơ sở của sự phát triển mạnh mê khoa học kĩ thuật. Tiêu biểu nhất là bước đột phá trong lĩnh vực thiên vãn học. Nicolas Copernic (1473 – 1543), nhà thiên văn học lỗi lac người Ba Lan đã đưa ra và chứng minh thuyết phục thuyết Nhật tâm. Theo đó Mặt Trời là trung tâm của Thái dương hệ. Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời. Cái nhìn khoa học này đã đả phá mạnh mẽ quan điểm Thiên Chúa giáo khi nhà thờ cho rằng Trái Đất là trung tâm vũ trụ và Chúa là trung tâm của Trái Đất. Một khi Trái Đất không còn là trung tâm vũ trụ thì Chúa cũng không còn là vị chú tể độc tôn. Điều này đã mở đường cho nhận thức khác về vai trò và giá trị của con người. Dần dần con người được xem xét như là chủ nhân của địa cÂu và hạnh phúc của con người là hanh phúc đích thực trên trần thế chứ không phải là cõi thiên đường vợi kia.
Nhãn:
Văn học phương tây
Tính chất kì vĩ như đã nói ở trên là một tính chất quan trọng của sử thi. Qua hai sử thi của Homer, tính chất đó còn được tôn tạo qua nghệ thuật hoành tráng tạo ra bức tranh phản ánh. Ở Iliad, đó là cảnh các cánh quân xung trận, khí thế ngút trời, là các lều trại san sát. Còn ở Odyssey, đó là biển và trời: biển mênh mông, trời lồng lộng còn con người thì bé nhỏ mà trí tuệ lại lớn lao. Nghệ thuật hoành tráng tạo ra bề rộng cho bức tranh hiện thực. Ớ đây còn có cả sự miêu tả cụ thể, chi tiết như cảnh Hephaixtốt rèn vũ khí cho Achilles, cảnh Ulisses hạ gục từng kẻ cầu hôn trong tiếng la ó hoảng loạn của chúng. So sánh là một biện pháp thường gặp ở hai sử thi này. Đồng thời, cách sử dụng các định ngữ gắn liền với các nhân vật, một mặt xác định phẩm chất nhân vật, mặt khác mang truyền thống truyền miệng, giúp cho người nghe dễ nhớ, dễ nắm bắt vấn đề.
Tính chất hào hùng kì vĩ của hai bản sử thi còn là sản phẩm của thế giới quan thần linh chủ nghĩa. Khi mà thế giới quan này phai nhạt di, mất di thì anh hùng ca hay sử thi đích thực cũng không còn. Vì vậy, sử thi là thể loại một đi không trở lại và là mẫu mực không bắt chước được. “Cách diễn đạt của Homer là gương mẫu và điển hình của tất cả các phẩm trong thuật hùng biện… tả việc lớn thì cao siêu, việc nhỏ thì tự nhiên và chính xác… lần lượt văn hoa và chặt chẽ, trang nghiêm và dịu dàng, lúc lưu loát cũng tuyệt diệu không kém lúc vắn tắt, không phái người chỉ có đến trình độ tối cao, tất cả những tài năng của nhà thi hào, mà còn có tất cả những tài năng của nhà hùng biện nữa ”.
Sử thi Odyssey và lliad là bộ bách khoa thư của xã hội Hi Lạp cổ đại. Nó là một bộ phận rất giá trị tạo ra nghệ thuật Hi Lạp, một nền nghệ thuật cổ xưa đã biết giải phóng con người ra khỏi mọi ràng buộc của thiên nhiên huyền bí và giúp cho con người nhận thức được cái dẹp huyền bí đó của thiên nhiên. Nhờ vậy nó soi sáng và dẫn dắt con người về thế giới của cái đẹp, của sự hoàn thiện tâm hổn và thể xác. Cả hai sử thi Ilỉad và Odyssey còn mớ ra vô số nẻo vào. Các thời đại khác nhau không chỉ thấy ở đây một cứ liệu lịch sử, một bộ bách khoa thư vé đời sống Hi Lạp cổ đại, mà còn rút ra cho thời đại mình những ý nghĩa thời sự mang tính thực tiễn cao. Bới lẽ các sử thi này là nguồn ánh sáng lung linh, huyền diệu soi dường cho nhân loại qua các thời đại.
Nhãn:
Văn học phương tây
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




